DuLieuPhapLuat.comDữ Liệu Pháp Luật
Nghiên cứu dựa trên dữ liệu bản án

Trình bày kết quả nghiên cứu bản án: tỷ lệ, bảng, trích dẫn và kết luận không quá đà

Cách viết tỷ lệ kèm mẫu số, dựng bảng kết quả, chọn câu trích minh hoạ và dùng từ cho kết luận dựa trên bản án, với khoá luận, bài báo và báo cáo chính sách.

A young woman seen from behind presenting to a small audience in a bright Da Nang lecture hall, pointing at a blank projector wall, listeners blurred in foreground

Trình bày kết quả nghiên cứu bản án cho đúng mức nghĩa là mỗi con số đi kèm mẫu số và phạm vi, mỗi câu trích có vai trò rõ ràng, và mỗi kết luận chỉ nói điều dữ liệu cho phép nói. Phần lớn lời phê bình nghiên cứu bản án không nhắm vào cách thu thập mà vào cách viết: một tỷ lệ đúng nhưng thiếu mẫu số, một từ "thường" trượt từ mẫu sang toàn quốc.

Bài đi qua các lựa chọn khi viết: con số, bảng, câu trích, từ ngữ cho kết luận, và cách điều chỉnh cho ba loại sản phẩm hay gặp là khoá luận, bài báo và báo cáo chính sách. Ví dụ trong bài là ví dụ giả định.

Con số: luôn đi kèm mẫu số

Viết cả số đếm lẫn tỷ lệ. "Toà chấp nhận yêu cầu ở 18 trên 24 bản án (75%)" cho người đọc nhiều thông tin hơn "75% bản án". Với mẫu nhỏ, số đếm quan trọng hơn tỷ lệ, vì một bản án thay đổi làm tỷ lệ nhảy nhiều điểm.

Nói rõ mẫu số là tập nào. Tính trên toàn mẫu, trên những bản án có yêu cầu đó, hay trên những bản án có ghi thông tin đó. Ba mẫu số cho ba con số khác nhau, và người đọc không tự đoán được bạn dùng cái nào.

Làm tròn vừa phải. Với vài chục bản án, ghi tỷ lệ đến hàng phần thập phân tạo cảm giác chính xác giả. Làm tròn đến đơn vị phần trăm là đủ; với mẫu rất nhỏ, có khi chỉ nên ghi số đếm.

Ghi khoảng cho số tiền, kèm trung vị. Mức tiền trong bản án thường lệch mạnh vì vài vụ rất lớn. Trung vị và khoảng dao động mô tả tốt hơn trung bình cộng. Nếu dùng trung bình, ghi kèm trung vị để người đọc thấy độ lệch.

Một bảng kết quả đọc được ngay

Bảng dưới là ví dụ giả định về cách trình bày kết quả theo nhóm. Điểm cần chú ý là cột mẫu số riêng và dòng ghi chú ngay dưới bảng.

Nhóm bản ánSố bản ánChấp nhận toàn bộChấp nhận một phầnBác yêu cầu
Sơ thẩm, có luật sư tham gia3012108
Sơ thẩm, không có luật sư42151116
Phúc thẩm18567

Ghi chú dưới bảng nên nói: nguồn và giai đoạn, cách chọn mẫu, mẫu số tính trên gì, và cảnh báo nếu có nhóm nhỏ. Với bảng trên, cần nói thêm rằng sự khác biệt giữa nhóm có và không có luật sư không cho phép kết luận rằng luật sư làm thay đổi kết quả, vì những vụ có luật sư có thể khác về độ phức tạp hay giá trị tranh chấp.

Đừng nhồi quá nhiều biến vào một bảng. Một bảng trả lời một câu hỏi; nếu cần nhiều góc nhìn, tách thành nhiều bảng nhỏ có tiêu đề là câu hỏi đó.

Từ ngữ cho kết luận: thang mức độ chắc chắn

Ngôn ngữ trong kết luận cần khớp với sức nặng của bằng chứng. Với kết quả chỉ mô tả mẫu, dùng "trong các bản án được khảo sát", "trong mẫu". Với kết quả đã qua kiểm độ nhạy và mẫu được chọn tốt, có thể dùng "dữ liệu cho thấy". Những cụm như "thực tiễn xét xử cho thấy", "các toà án đều" chỉ dành cho khi phạm vi mẫu thật sự đủ rộng, và ngay cả khi đó vẫn nên kèm phạm vi.

Cẩn trọng nhất là từ chỉ nguyên nhân. Dữ liệu bản án gần như luôn là dữ liệu quan sát, nên một khác biệt giữa hai nhóm hiếm khi cho phép nói nhóm này khiến kết quả khác. Viết "đi kèm với", "gặp nhiều hơn ở", và bàn những giải thích khác có thể có.

Cũng cần cẩn trọng với kết quả "không có khác biệt". Không thấy khác biệt trong mẫu nhỏ không có nghĩa là không có khác biệt; có thể mẫu chưa đủ để phát hiện. Viết "mẫu không cho thấy khác biệt rõ" thay vì "không có khác biệt".

Một thói quen tốt là đọc lại riêng phần tóm tắt và phần kết luận, gạch chân mọi từ chỉ mức độ như "phần lớn", "thường", "hầu hết", "xu hướng", rồi kiểm từng từ: con số nào đứng sau nó, tính trên mẫu nào. Từ nào không trỏ được về một con số cụ thể thì thay bằng con số, hoặc bỏ đi.

Chọn câu trích minh hoạ

Câu trích từ bản án làm kết quả sống động, nhưng cũng dễ bị dùng để thay cho bằng chứng. Một số nguyên tắc:

  • Mỗi câu trích phải có vai trò: minh hoạ một kiểu lập luận đã được đếm, hoặc minh hoạ một trường hợp ngoại lệ đáng chú ý.
  • Nói rõ câu trích đại diện cho bao nhiêu bản án có kiểu lập luận tương tự, để người đọc không tưởng một câu là cả xu hướng.
  • Trích ngắn, đúng nguyên văn, ghi bản án nguồn; lược bớt thì đánh dấu chỗ lược.
  • Không chọn câu trích chỉ vì nó gây ấn tượng mạnh hay hợp ý người viết.
  • Kiểm lại câu trích không chứa chi tiết làm lộ người đã được ẩn danh.
  • Khi trích lập luận để phê bình, trình bày đủ ngữ cảnh để không làm sai ý toà.

Trong báo cáo chính sách, một câu trích ngắn đặt cạnh bảng số thường thuyết phục hơn nhiều đoạn văn. Nhưng nếu câu trích là ngoại lệ, hãy gọi nó là ngoại lệ.

Với bài báo, ưu tiên câu trích ngắn bằng ngôn ngữ dễ hiểu; nếu đoạn nhận định dùng nhiều thuật ngữ, hãy diễn giải ngay sau câu trích thay vì cắt bớt làm đổi nghĩa.

Điều chỉnh theo loại sản phẩm

Cùng một bộ kết quả, cách trình bày khác nhau theo người đọc. Bảng tóm tắt những khác biệt chính.

Khoá luậnBài báoBáo cáo chính sách
Người đọc chínhHội đồng, người hướng dẫnĐộc giả phổ thôngNgười làm chính sách, cơ quan soạn thảo
Phương phápChương riêng, chi tiếtMột đoạn ngắn và hộp ghi chúMột trang tóm tắt, phụ lục đầy đủ
Con sốĐủ bảng, đủ mẫu sốVài con số chính kèm phạm vi trong cùng câuCon số chính trong tóm tắt, kèm mức chắc chắn
Giới hạnMục riêngMột hai câu ngay cạnh kết quảNgay trong tóm tắt
Kiến nghịChương riêng, gắn khung lý thuyếtThường không cầnTách khỏi phát hiện, ghi rõ căn cứ

Điểm chung của cả ba: kết luận chính phải truy được về bảng hoặc đoạn phân tích cụ thể, và phạm vi mẫu xuất hiện gần kết luận, không chỉ ở chương phương pháp.

Khi chuyển một khoá luận thành bài báo hay báo cáo, đừng chỉ cắt ngắn. Hãy viết lại tóm tắt từ đầu cho người đọc mới, chọn hai ba phát hiện quan trọng nhất với họ, và giữ nguyên các con số đúng như trong bản gốc để tránh sai lệch khi người khác đối chiếu.

Phụ lục phương pháp: những gì nên đưa vào

Phụ lục là nơi người đọc có chuyên môn kiểm tra công trình của bạn. Một phụ lục đủ dùng gồm:

  1. Mô tả nguồn, ngày tìm, chuỗi tìm kiếm và số kết quả ở mỗi bước lọc.
  2. Tiêu chí loại trừ và số bản án bị loại theo từng tiêu chí.
  3. Bảng mã đầy đủ, kèm số phiên bản.
  4. Thông tin về người mã và kết quả đo đồng thuận cho các biến chính.
  5. Các phép kiểm độ nhạy đã làm và kết quả.
  6. Danh sách số bản án trong mẫu, hoặc cách để người đọc xin danh sách.

Phụ lục không cần đẹp, nhưng cần đầy đủ và khớp với nội dung chính. Một sai lệch nhỏ giữa con số trong phụ lục và trong bài đủ để người đọc nghi ngờ toàn bộ kết quả, nên kiểm lại một lượt cuối trước khi nộp.

Với bài báo, phụ lục có thể là một trang riêng trên trang của toà soạn hoặc một tệp tải về; với báo cáo chính sách, nó là phần cuối của báo cáo. Dù ở đâu, hãy nhắc tới nó ngay trong phần chính để người đọc biết nơi tìm.

Viết kết quả định tính: kiểu lập luận, không phải danh sách bản án

Khi nghiên cứu có phần đọc định tính phần nhận định, kết quả nên được tổ chức theo kiểu lập luận chứ không theo từng bản án. Thay vì kể lần lượt "bản án thứ nhất cho rằng…, bản án thứ hai cho rằng…", hãy đặt tên cho từng cách hiểu, mô tả nội dung của nó, nêu bao nhiêu bản án trong mẫu theo cách đó, rồi minh hoạ bằng một câu trích tiêu biểu.

Cấu trúc này giúp người đọc thấy bức tranh tổng thể và giúp bạn tránh dồn chỗ cho những bản án viết hay. Nó cũng làm rõ những trường hợp không xếp được vào kiểu nào; hãy giữ một nhóm "khác" và mô tả ngắn, thay vì ép chúng vào kiểu gần nhất.

Khi so sánh các kiểu lập luận với quy định pháp luật, tách rõ hai giọng: giọng mô tả (toà đã lập luận thế nào) và giọng đánh giá (cách hiểu đó có phù hợp với văn bản và mục đích của quy định không). Người đọc cần biết lúc nào bạn đang báo cáo, lúc nào bạn đang bình luận.

Những lỗi trình bày hay gặp

Danh sách dưới đây gom những lỗi thường bị hội đồng, biên tập viên hay người phản biện chỉ ra:

  • Tỷ lệ không có mẫu số, hoặc mẫu số đổi giữa các bảng mà không giải thích.
  • Tóm tắt nói mạnh hơn phần kết quả: phần kết quả viết "trong mẫu", tóm tắt viết "các toà".
  • Dùng câu trích ngoại lệ như thể đó là xu hướng chung.
  • Kết luận nguyên nhân từ một so sánh hai nhóm.
  • Gộp số liệu nhiều giai đoạn mà không tách, che mất thay đổi do luật mới hoặc do tổ chức lại toà án.
  • Để kiến nghị lẫn trong phần phát hiện, khiến người đọc không phân biệt được đâu là dữ liệu, đâu là ý kiến.
  • Không nhắc lại giới hạn ở phần kết luận, chỉ để ở chương phương pháp.

Một cách tự kiểm nhanh: đưa bản thảo cho một người chưa biết đề tài, chỉ cho đọc phần tóm tắt, rồi hỏi họ hiểu kết quả áp dụng cho những bản án nào. Câu trả lời của họ cho bạn biết tóm tắt đã mang đủ phạm vi hay chưa.

Câu hỏi thường gặp

Có nên dùng biểu đồ thay cho bảng không?

Biểu đồ giúp người đọc thấy xu hướng nhanh, hợp với bài báo và báo cáo chính sách. Bảng giữ được số chính xác, hợp với khoá luận và phụ lục. Nếu dùng biểu đồ, ghi cỡ mẫu trên biểu đồ và tránh trục bị cắt làm khác biệt nhỏ trông lớn.

Có cần kiểm định thống kê cho mọi so sánh không?

Không bắt buộc với nghiên cứu mô tả. Nếu bạn muốn nói hai nhóm khác nhau một cách có ý nghĩa, kiểm định giúp tránh đọc nhầm dao động ngẫu nhiên thành khác biệt. Khi dùng, chọn phép kiểm phù hợp với loại dữ liệu và cỡ mẫu, và báo cáo cả cỡ mẫu.

Kết quả trái với quan điểm phổ biến thì trình bày thế nào?

Trình bày bình thường, kèm đủ phương pháp và giới hạn. Kết quả trái chiều thường bị soi kỹ hơn, nên phụ lục phương pháp càng quan trọng. Tránh giọng khẳng định quá mức; để dữ liệu và cách làm thuyết phục người đọc.

Có nên nêu những kết quả không như mong đợi không?

Có. Bỏ qua kết quả không như mong đợi làm bức tranh bị lệch và khiến người đọc đánh giá sai. Một kết quả không xác nhận giả thuyết vẫn có giá trị, và việc nêu nó cho thấy nghiên cứu được làm trung thực.

Có thể gửi kết quả cho cơ quan soạn thảo luật không?

Có thể, nhất là khi đang có đợt lấy ý kiến dự thảo. Nên gửi bản tóm tắt ngắn kèm phụ lục phương pháp, nêu rõ phạm vi mẫu và tách phát hiện khỏi kiến nghị. Người nhận cần biết ngay mức độ chắc chắn của từng phát hiện.

Báo chí trích sai kết quả thì làm gì?

Liên hệ toà soạn đề nghị đính chính, gửi kèm đoạn kết quả gốc và phạm vi mẫu. Để phòng từ trước, viết tóm tắt sao cho mỗi câu tự mang phạm vi, và chuẩn bị sẵn một đoạn giải thích ngắn bằng ngôn ngữ phổ thông.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.