DuLieuPhapLuat.comDữ Liệu Pháp Luật
Nghiên cứu dựa trên dữ liệu bản án

Chọn mẫu bản án cho nghiên cứu: lấy toàn bộ, ngẫu nhiên, theo tầng hay có chủ đích

Bốn cách chọn bản án vào mẫu nghiên cứu, ưu nhược của từng cách, cách lập khung chọn mẫu từ kết quả tìm kiếm và ghi nhật ký loại bỏ cho người khác kiểm.

Top-down view of a long wooden table in a Hanoi research institute, hands drawing small folded blank slips from a ceramic bowl beside neat piles of plain folders

Chọn mẫu bản án là quyết định bản án nào được đưa vào phân tích, theo quy tắc viết ra trước, để người khác hiểu kết quả đại diện cho tập bản án nào. Có bốn cách thường dùng: lấy toàn bộ bản án thoả tiêu chí, lấy ngẫu nhiên đơn giản, lấy ngẫu nhiên theo tầng, và chọn có chủ đích cho phân tích định tính. Không cách nào đúng cho mọi đề tài; cách sai là cách không nói ra được.

Với dữ liệu bản án, việc chọn mẫu còn phụ thuộc vào một bước ít được nhắc tới: lập khung chọn mẫu, tức danh sách tất cả bản án có thể được chọn. Khung đó gần như luôn đến từ kết quả tìm kiếm trên một kho bản án, và cách tìm kiếm quyết định phần lớn tính đại diện. Bài đi qua cả hai việc.

Khung chọn mẫu: bắt đầu từ kết quả tìm kiếm

Trước khi chọn, bạn cần biết mình đang chọn từ đâu. Với bản án công bố, khung chọn mẫu thường là tập kết quả khi lọc theo loại vụ việc, cấp xét xử, khoảng thời gian, cộng với từ khoá. Mỗi bộ lọc đều có giới hạn: phân loại vụ việc trên kho có thể không khớp với khái niệm pháp lý trong đề tài, từ khoá có thể bỏ sót bản án dùng cách diễn đạt khác.

Cách làm an toàn là ghi lại chính xác chuỗi tìm kiếm: nguồn, ngày tìm, bộ lọc đã chọn, từ khoá đã gõ, số kết quả trả về. Nên thử thêm vài cách diễn đạt khác của cùng khái niệm, rồi so số kết quả, để biết khung của mình có bỏ sót nhiều không. Ví dụ giả định: tìm "đặt cọc" ra một tập, tìm "tiền cọc" và "phạt cọc" ra thêm vài bản án không có trong tập đầu; khi đó khung nên là hợp của các lần tìm, sau khi bỏ trùng.

Kết quả tìm kiếm thay đổi theo thời gian vì kho được bổ sung, sửa hoặc gỡ bản án. Nếu không lưu bản sao danh sách kết quả tại thời điểm tìm, bạn sẽ không tái lập được khung về sau. Lưu danh sách mã bản án, không cần lưu nguyên văn nếu chưa cần.

Bốn cách chọn mẫu và khi nào dùng

Bảng so sánh bốn cách theo mục đích và điều kiện áp dụng. Phần "rủi ro chính" là chỗ người phản biện thường hỏi.

Cách chọnHợp khiRủi ro chính
Lấy toàn bộ khungKhung nhỏ hoặc vừa, đủ thời gian mã hoá hếtKhung lệch thì toàn bộ cũng lệch; dễ quá tải khi khung lớn hơn dự kiến
Ngẫu nhiên đơn giảnKhung lớn, các bản án tương đối đồng nhấtNhóm nhỏ quan trọng có thể gần như không xuất hiện trong mẫu
Ngẫu nhiên theo tầngCần so sánh nhóm: cấp xét xử, vùng, giai đoạnPhải dùng trọng số khi gộp các tầng nếu tỷ lệ chọn khác nhau
Có chủ đíchPhân tích định tính lập luận, tìm các kiểu giải quyết khác nhauKhông dùng để tính tỷ lệ cho cả tập

Có thể kết hợp: lấy ngẫu nhiên theo tầng để đếm, rồi chọn có chủ đích vài bản án trong mẫu để phân tích sâu. Khi kết hợp, hãy giữ hai nhóm tách biệt trong bảng dữ liệu để không lẫn khi tính tỷ lệ.

Lấy mẫu ngẫu nhiên từ danh sách bản án, từng bước

Lấy ngẫu nhiên nghe có vẻ phức tạp nhưng làm được bằng bảng tính thông thường. Quy trình dưới đây giữ được tính tái lập:

  1. Đưa toàn bộ khung chọn mẫu vào một bảng, mỗi dòng một bản án, có mã nội bộ.
  2. Loại các dòng trùng: cùng một bản án có thể xuất hiện nhiều lần do tìm theo nhiều từ khoá.
  3. Ghi một số khởi tạo cho bộ sinh số ngẫu nhiên nếu công cụ cho phép, hoặc lưu lại cột số ngẫu nhiên đã sinh, để người khác tái lập đúng mẫu.
  4. Sắp xếp theo cột số ngẫu nhiên và lấy số dòng cần thiết từ trên xuống.
  5. Với mẫu theo tầng, làm các bước trên riêng trong từng tầng, với số lượng định trước cho mỗi tầng.
  6. Đọc lướt từng bản án trong mẫu để áp tiêu chí loại trừ; bản án bị loại thì ghi lý do và, nếu thiết kế cho phép, lấy dòng kế tiếp trong danh sách đã xếp để thay.
  7. Lưu bảng cuối cùng: mẫu chính thức, danh sách bị loại kèm lý do, và cột số ngẫu nhiên.

Bước sáu là chỗ hay bị làm tắt. Nếu bạn loại bản án mà không ghi lý do, hoặc thay bằng bản án "hay hơn" thay vì dòng kế tiếp, tính ngẫu nhiên mất đi mà không ai biết.

Tiêu chí loại trừ: viết trước, áp như nhau

Loại theo nội dung, không theo kết quả. Tiêu chí hợp lệ: bản án không thuộc quan hệ tranh chấp đang nghiên cứu, bản án chỉ là quyết định đình chỉ không có nhận định, bản án bị lỗi hiển thị không đọc được. Tiêu chí không hợp lệ: bản án có kết quả "lạ", bản án ngắn quá nên khó mã.

Cân nhắc kỹ quyết định công nhận thoả thuận. Những quyết định này thường không có phần nhận định về nội dung tranh chấp. Đưa vào hay loại ra đều được, nhưng phải nhất quán và nói rõ, vì nó thay đổi đáng kể ý nghĩa của tỷ lệ "toà chấp nhận yêu cầu".

Xử lý cặp sơ thẩm – phúc thẩm. Nếu mẫu chứa cả bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm của cùng vụ, chúng không độc lập với nhau. Hãy quyết định đơn vị là vụ việc hay bản án, và nối các bản án cùng vụ bằng một mã chung khi nhận ra.

Ghi số lượng ở mỗi bước lọc. Từ số kết quả tìm kiếm, sau bỏ trùng, sau loại theo tiêu chí, đến mẫu cuối cùng. Chuỗi số này nên xuất hiện trong phần phương pháp, có thể vẽ thành sơ đồ luồng đơn giản.

Cỡ mẫu: bao nhiêu là vừa với câu hỏi

Không có cỡ mẫu chuẩn cho nghiên cứu bản án. Với câu hỏi mô tả tỷ lệ, mẫu càng lớn thì khoảng sai số càng hẹp; người có kiến thức thống kê có thể tính cỡ mẫu theo độ chính xác mong muốn. Với câu hỏi so sánh nhóm, điều quan trọng là mỗi nhóm có đủ bản án, không phải tổng mẫu lớn. Một mẫu lớn mà một nhóm chỉ có vài bản án thì phép so sánh gần như không nói được gì.

Với phân tích định tính lập luận, cỡ mẫu được quyết định bằng tiêu chí bão hoà: tiếp tục đọc cho tới khi các bản án mới không còn cho thêm kiểu lập luận mới. Khi viết, bạn nên nói rõ mình dừng ở đâu và vì sao, thay vì đưa ra một con số trông tròn trịa.

Trong mọi trường hợp, hãy cân cỡ mẫu với thời gian mã hoá thật. Một mẫu nhỏ hơn mà mã kỹ, có kiểm đồng thuận, thường cho kết quả đáng tin hơn một mẫu lớn mã vội. Điều này đặc biệt đúng khi biến quan trọng nhất đòi hỏi đọc kỹ phần nhận định.

Những kiểu chọn mẫu làm hỏng kết luận

Các kiểu dưới đây xuất hiện khá thường trong bài viết về thực tiễn xét xử. Mỗi kiểu đều có thể biện minh được ở mức nào đó, nhưng kết luận phải hẹp lại tương ứng:

  • Chỉ lấy bản án được nhắc trên báo chí hoặc mạng xã hội: những vụ được nhắc thường là vụ đặc biệt, không đại diện cho vụ thường ngày.
  • Chỉ lấy trang kết quả đầu tiên của công cụ tìm kiếm: thứ tự hiển thị có thể theo ngày đăng hay độ liên quan, không phải ngẫu nhiên.
  • Chỉ lấy bản án của một vài toà quen thuộc: phù hợp nếu đề tài nói rõ là nghiên cứu một địa phương, không phù hợp nếu kết luận về "các toà".
  • Chọn bản án sau khi đã biết kết quả: dù không cố ý, người chọn dễ nghiêng về những bản án ủng hộ luận điểm.
  • Gộp bản án nhiều giai đoạn mà không đánh dấu giai đoạn: thay đổi luật hay thay đổi tổ chức toà án bị trộn vào kết quả.

Nếu bạn buộc phải dùng một trong các cách trên vì giới hạn thực tế, hãy viết rõ điều đó trong phần phương pháp và giới hạn. Người đọc chấp nhận giới hạn được nói ra dễ hơn nhiều so với giới hạn bị phát hiện.

Chia tầng theo tiêu chí nào

Mẫu theo tầng chỉ có ích khi tiêu chí chia tầng gắn với câu hỏi. Nếu bạn muốn so sánh sơ thẩm với phúc thẩm, cấp xét xử là tầng tự nhiên. Nếu muốn so sánh trước và sau khi một luật có hiệu lực, giai đoạn là tầng. Nếu muốn biết thực tiễn có khác nhau giữa các vùng, tỉnh hoặc nhóm tỉnh là tầng, và cần lưu ý rằng sau sắp xếp năm 2025 cả nước còn 34 tỉnh, thành phố, nên bản án cũ mang tên địa giới cũ phải được quy đổi theo một bảng chuyển đổi bạn tự lập và công bố.

Số bản án lấy ở mỗi tầng có hai cách quyết định. Cách tỷ lệ: mỗi tầng góp vào mẫu theo đúng tỷ lệ của nó trong khung, giúp ước lượng chung dễ hơn. Cách bằng nhau: mỗi tầng lấy cùng số bản án, giúp so sánh giữa các tầng công bằng hơn khi có tầng rất nhỏ. Chọn cách nào cũng được, miễn là khi gộp kết quả bạn nhớ rằng cách bằng nhau đã phóng to vai trò của tầng nhỏ.

Đừng chia quá nhiều tầng. Mỗi tầng thêm vào làm số bản án trong từng ô nhỏ đi, và một ô chỉ có vài bản án thì kết quả của ô đó gần như không đọc được.

Viết đoạn chọn mẫu trong phần phương pháp

Nêu nguồn và thời điểm. Kho nào, tìm ngày nào, vì sao chọn kho đó. Người đọc cần biết dữ liệu được chụp lại ở thời điểm nào vì kho thay đổi liên tục.

Nêu chuỗi tìm kiếm. Bộ lọc, từ khoá, số kết quả ở mỗi lần tìm và sau khi bỏ trùng. Có thể đưa vào phụ lục nếu dài.

Nêu cách chọn và tiêu chí loại. Lấy toàn bộ, ngẫu nhiên hay theo tầng; số lượng mỗi tầng; danh sách tiêu chí loại trừ và số bản án bị loại theo từng tiêu chí.

Nói thẳng giới hạn. Một hai câu về những gì mẫu không bao phủ: bản án không công bố, giai đoạn không lấy, loại thủ tục bị loại. Viết ở đây và nhắc lại ở phần kết luận.

Đính kèm danh sách mã bản án. Danh sách số bản án và toà của mẫu cuối cùng, để trong phụ lục hoặc tệp đi kèm, cho phép người phản biện tự mở lại vài bản án và đối chiếu với giá trị bạn đã ghi. Danh sách này chỉ cần số bản án và toà, không cần tên đương sự.

Câu hỏi thường gặp

Có thể dùng mẫu thuận tiện trong khoá luận không?

Có thể, nhất là khi thời gian và nguồn bị giới hạn. Điều kiện là bạn mô tả rõ cách lấy mẫu và không khái quát kết quả cho toàn bộ bản án. Ví dụ, thay vì nói "các toà thường", hãy nói "trong các bản án được khảo sát".

Lấy mẫu theo tầng thì có cần trọng số không?

Cần khi bạn muốn gộp các tầng để ước lượng tỷ lệ chung mà tỷ lệ chọn ở mỗi tầng khác nhau. Nếu chỉ so sánh giữa các tầng với nhau, có thể không cần trọng số. Khi không chắc, nên hỏi người có chuyên môn thống kê.

Nếu khung chọn mẫu quá lớn để đọc lướt hết thì làm sao?

Đó chính là lúc nên lấy mẫu ngẫu nhiên. Bạn không cần đọc toàn bộ khung, chỉ cần danh sách mã bản án để sinh số ngẫu nhiên. Tiêu chí loại trừ được áp sau, trên các bản án đã rơi vào mẫu.

Bản án bị gỡ khỏi kho sau khi đã đưa vào mẫu thì xử lý thế nào?

Ghi nhận việc bị gỡ trong nhật ký và giữ dữ liệu đã mã nếu việc lưu trữ phù hợp với quy định về dữ liệu cá nhân và mục đích nghiên cứu. Khi công bố, không nên trích dẫn chi tiết bản án đã bị gỡ, vì việc gỡ có thể xuất phát từ đề nghị chính đáng của người có tên.

Có nên lấy cả bản án và quyết định không?

Tuỳ câu hỏi. Quyết định đình chỉ, quyết định công nhận thoả thuận có thể quan trọng nếu bạn nghiên cứu cách vụ việc kết thúc, nhưng gây nhiễu nếu bạn nghiên cứu lập luận về nội dung. Quyết định trước, áp dụng nhất quán, và báo cáo số lượng mỗi loại.

Thứ tự kết quả trên cổng công bố có phải là ngẫu nhiên không?

Không nên coi là ngẫu nhiên. Thứ tự hiển thị thường theo ngày đăng, ngày tuyên hoặc thuật toán xếp hạng của công cụ tìm kiếm. Lấy những kết quả đầu tiên là lấy theo quy tắc của công cụ, không phải theo quy tắc của nghiên cứu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.