DuLieuPhapLuat.comDữ Liệu Pháp Luật
Lỗi thường gặp trong dữ liệu pháp luật

Nhận ra bản văn bản chưa chính thức: dự thảo, bản đánh máy lại, bản chép trên mạng

Dự thảo đăng như văn bản đã ký, bản đánh máy lại sai vài chữ, bản chép qua nhiều trang: cách nhận ra bản chưa chính thức trong kho dữ liệu và xử lý khi gặp.

A Vietnamese researcher at a Can Tho university library, seen from behind, holding two blank sheets up to window light to compare them, soft green tones

Bản chưa chính thức là bất kỳ bản nào không phải văn bản đã được cơ quan có thẩm quyền ký ban hành hoặc công bố qua kênh chính thức: dự thảo, bản đánh máy lại, bản chép qua trang này trang khác, bản trích, bản tóm tắt. Những bản này lẫn vào kho dữ liệu nhiều hơn người dùng nghĩ, và nguy hiểm vì chúng thường giống văn bản thật tới chín mươi mấy phần trăm câu chữ.

Bài này giúp bạn nhận ra từng loại bản chưa chính thức bằng dấu hiệu cụ thể, so một bản nghi ngờ với bản gốc, và biết loại bản nào vẫn dùng được cho việc gì. Phần cuối dành cho đội dựng kho nội bộ: cách ghi "loại bản" để người dùng không phải đoán.

Bản chính thức trong dữ liệu nghĩa là gì

Về mặt pháp lý, giá trị nằm ở văn bản đã được người có thẩm quyền ký, ban hành theo đúng trình tự. Về mặt dữ liệu, người dùng hầu như không cầm bản giấy có dấu đỏ; họ đọc một bản sao. Câu hỏi thực tế là bản sao đó có trung thành với văn bản đã ban hành không, và có đến từ nguồn mà cơ quan nhà nước dùng để công bố hay không.

Những nguồn thường được coi là tham chiếu chính thức gồm Công báo, cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, cổng thông tin của chính cơ quan ban hành, cùng bản điện tử có chữ ký số của cơ quan đó. Luật Giao dịch điện tử 2023, có hiệu lực từ 1/7/2024, thừa nhận giá trị của thông điệp dữ liệu và chữ ký điện tử khi đáp ứng điều kiện luật định, nên một tệp có chữ ký số hợp lệ của cơ quan ban hành có ý nghĩa khác hẳn một tệp chữ trơn chép lại.

Từ đó, trong kho dữ liệu nên phân biệt ít nhất ba tầng: bản gốc hoặc bản sao trực tiếp từ nguồn chính thức (tệp quét có chữ ký, tệp ký số); bản chữ do kho chuyển từ bản gốc, có thể sai sót khi chuyển; và bản lấy từ nơi khác không rõ gốc. Tầng thứ ba chính là chỗ bản chưa chính thức trú ẩn.

Năm loại bản chưa chính thức hay lẫn vào kho

Dự thảo. Dự thảo được công khai để lấy ý kiến là chuyện bình thường và cần thiết. Vấn đề phát sinh khi một trang tổng hợp lưu dự thảo dưới cùng tên với văn bản sắp ban hành, rồi không thay bằng bản chính thức khi văn bản được ký. Giữa dự thảo cuối và bản ban hành có thể khác nhau ở những khoản quan trọng.

Bản đánh máy lại. Ai đó gõ lại văn bản từ bản giấy hoặc bản quét để tiện sao chép. Bản gõ lại hay sót dòng, sai số, mất phụ lục, và gần như không bao giờ ghi chú là bản gõ lại.

Bản chép qua nhiều trang. Một văn bản đi qua diễn đàn, nhóm chat, trang cá nhân, rồi được một trang tổng hợp nhặt lại. Mỗi lần chép có thể mất định dạng, mất phần ký, thêm lời bình của người đăng lẫn vào nội dung.

Bản trích, bản tóm tắt. Chỉ chứa một số điều, hoặc diễn giải lại bằng lời của người viết. Có ích để đọc nhanh, nhưng khi được lưu như toàn văn thì người dùng tưởng đó là văn bản đầy đủ.

Bản dịch ngược. Hiếm nhưng có: một bản tiếng Việt được dịch lại từ bản tiếng Anh không chính thức vì người đăng không tìm được bản gốc. Câu chữ nghe hợp lý nhưng không phải lời của văn bản.

Dấu hiệu nhận ra một dự thảo

Dự thảo thường để lại dấu vết dễ nhận nếu bạn chú ý phần đầu và phần cuối văn bản. Gặp bất kỳ dấu hiệu nào dưới đây, hãy coi bản đó là dự thảo cho tới khi tìm được bản đã ký.

  • Góc trên văn bản có chữ "dự thảo", kèm số lần dự thảo hoặc ngày dự thảo.
  • Số hiệu để trống phần số, chỉ có dấu chấm lửng trước năm và ký hiệu loại văn bản.
  • Dòng ngày tháng có chỗ trống "ngày… tháng… năm…".
  • Không có khối chữ ký, hoặc khối chữ ký chỉ ghi chức danh mà không có tên người ký.
  • Trong nội dung còn ngoặc vuông, các phương án đánh số để lựa chọn, ghi chú của ban soạn thảo.
  • Tệp đi kèm tờ trình, báo cáo đánh giá tác động, bảng tổng hợp ý kiến – những tài liệu thuộc hồ sơ dự thảo.
  • Tìm trên nguồn chính thức thì không thấy văn bản nào có cùng trích yếu đã được ban hành, hoặc văn bản đã ban hành có số hiệu, ngày ký mà bản bạn đang xem không có.

Có trường hợp ngược lại cũng cần để ý: bản ký đã ban hành nhưng trang tổng hợp lại xoá mất phần số hiệu, ngày ký khi chép, khiến văn bản thật trông như dự thảo. Vì vậy dấu hiệu chỉ giúp bạn đặt câu hỏi; câu trả lời cuối cùng vẫn nằm ở việc tìm được hay không tìm được văn bản đó trên nguồn chính thức với đủ số hiệu, ngày ký và người ký.

Loại bản nào dùng được cho việc gì

Không phải bản chưa chính thức nào cũng vô dụng. Điều quan trọng là dùng đúng việc và ghi rõ mình đang dùng loại bản nào.

Loại bảnDùng được choKhông nên dùng cho
Bản gốc, bản từ nguồn chính thứcTrích dẫn trong hợp đồng, công văn, văn bản tư vấn, bài báo—
Bản chữ do kho chuyển từ bản gốcĐọc, tìm kiếm, sao chép đoạn để soạn thảoTrích con số, phụ lục khi chưa so với bản gốc
Dự thảoTheo dõi chính sách sắp tới, góp ý, chuẩn bị trướcLàm căn cứ áp dụng; trích như văn bản đã ban hành
Bản trích, bản tóm tắtĐọc nhanh để định hướngKết luận về nội dung mà bản tóm tắt không có
Bản chép không rõ gốcLàm manh mối để đi tìm bản gốcBất cứ việc gì cần độ chính xác

Khi buộc phải nhắc tới dự thảo trong một bài viết hay báo cáo, ghi rõ "dự thảo", lần dự thảo và thời điểm, để người đọc không hiểu nhầm là quy định đã có.

So một bản đáng ngờ với bản gốc

Khi bạn có một bản chữ trơn và tìm được bản gốc, các bước dưới đây giúp so nhanh mà không phải đọc lại từng chữ.

  1. So phần đầu: tên cơ quan, số hiệu, ngày, trích yếu. Khác một chi tiết là đủ để biết đây không phải bản sao trung thành.
  2. So số điều, số chương và tiêu đề từng điều; bản gõ lại hay mất cả một điều mà người đọc không nhận ra.
  3. Tìm trong cả hai bản mọi chữ số – mức, thời hạn, tỷ lệ, số hiệu văn bản được dẫn chiếu – và so từng cặp.
  4. So danh sách phụ lục, biểu mẫu kèm theo; đếm số trang phụ lục trên bản gốc.
  5. Nếu có công cụ so sánh văn bản, chạy so hai bản chữ để thấy mọi chỗ khác nhau, rồi chỉ đọc kỹ những chỗ đó.
  6. Ghi kết luận: bản trùng khớp, khác ở những điểm nào, nên dùng bản nào.

Bản gốc dạng tệp quét không sao chép được chữ thì vẫn so được theo cách trên, chỉ chậm hơn. Đừng bỏ qua bước so chữ số, vì đó là nơi sai khác gây hậu quả lớn nhất.

Ví dụ giả định: dự thảo và bản ký khác nhau ở một khoản

Ví dụ giả định: một dự thảo thông tư về hồ sơ cấp phép được công khai lấy ý kiến, trong đó một khoản yêu cầu nộp bản sao có chứng thực của một loại giấy tờ. Sau góp ý, bản ký ban hành bỏ yêu cầu chứng thực, chỉ cần bản chụp kèm bản chính để đối chiếu. Một trang tổng hợp đã đăng dự thảo từ trước, đặt tiêu đề như văn bản chính thức và không thay sau khi văn bản được ký.

Người làm thủ tục tra được trang đó, mất công đi chứng thực giấy tờ không cần thiết. Một văn phòng tư vấn soạn hướng dẫn cho khách cũng dựa trên trang đó, nên hướng dẫn sai theo. Không ai làm gì trái luật, nhưng thời gian và chi phí của nhiều người bị lãng phí chỉ vì dữ liệu ghi nhầm loại bản.

Bài học dữ liệu ở đây: kho nào lưu dự thảo phải gắn nhãn dự thảo rõ ràng, giữ số lần dự thảo, và khi văn bản chính thức ra đời thì liên kết hai bản với nhau thay vì để chúng tồn tại song song mà người dùng không phân biệt được.

Với người dùng, thói quen đơn giản nhất là nhìn khối chữ ký trước khi đọc nội dung. Một văn bản không có tên người ký, không có số hiệu đầy đủ thì chưa đáng để làm theo, dù tiêu đề trang ghi gì. Mất mười giây cho thói quen này rẻ hơn rất nhiều so với một chuyến đi chứng thực giấy tờ không cần thiết.

Kho nội bộ: ghi loại bản và nguồn cho từng văn bản

Với kho do đội bạn tự dựng, thêm hai trường bắt buộc cho mọi văn bản: "loại bản" và "nguồn". Loại bản có thể gồm bản gốc quét, bản ký số, bản chữ chuyển từ bản gốc, dự thảo, bản trích, bản không rõ gốc. Nguồn ghi nơi lấy và ngày lấy. Hai trường này giúp người dùng quyết định mức tin cậy mà không phải hỏi lại người nhập.

Đặt quy tắc: bản "không rõ gốc" không được hiển thị như văn bản bình thường trong kết quả tìm kiếm; nó chỉ là bản tạm chờ thay. Dự thảo được hiển thị ở khu vực riêng hoặc gắn nhãn nổi bật. Khi văn bản chính thức được nhập, hệ thống tự gợi ý các dự thảo có trích yếu gần giống để người nhập liên kết hoặc ẩn đi.

Ngoài ra, mỗi bản chữ nên kèm bản gốc để người dùng mở đối chiếu khi cần. Một kho chỉ có bản chữ mà không có bản gốc buộc người dùng tin hoàn toàn vào khâu chuyển đổi – điều mà bài về lỗi số hoá trong chuyên mục này cho thấy là không nên.

Câu hỏi thường gặp

Dự thảo có được trích dẫn trong bài viết hay báo cáo không?

Được, nếu bạn ghi rõ đó là dự thảo, lần dự thảo và thời điểm, và dùng để bàn về chính sách sắp tới. Không nên trích dự thảo như căn cứ áp dụng, vì nội dung có thể thay đổi trước khi ban hành và dự thảo chưa có giá trị bắt buộc.

Bản chữ trên trang tra cứu khác bản quét ở một con số thì tin bản nào?

Tin bản quét có chữ ký của cơ quan ban hành, vì bản chữ là sản phẩm chuyển đổi và có thể sai. Nếu chính bản quét có lỗi đánh máy, hãy tìm xem đã có văn bản đính chính chưa. Đồng thời báo cho nơi vận hành trang để họ sửa bản chữ.

Văn bản nhận qua nhóm chat có dùng được không?

Dùng được như manh mối để đi tìm bản gốc. Văn bản chuyển tay qua nhiều nơi có thể đã bị cắt, ghép, thêm lời bình hoặc chỉ là dự thảo. Trước khi làm theo hay chia sẻ tiếp, tìm cùng văn bản trên nguồn chính thức theo số hiệu.

Làm sao biết một tệp PDF có phải bản ký số của cơ quan ban hành?

Mở tệp bằng phần mềm đọc hỗ trợ chữ ký số để xem thông tin chữ ký: đơn vị ký, thời điểm ký, trạng thái hợp lệ. Tệp chỉ có hình con dấu và chữ ký dạng ảnh không phải là chữ ký số. Nếu không chắc, đối chiếu với bản đăng trên nguồn chính thức.

Kho dữ liệu có nên giữ lại dự thảo sau khi văn bản đã ban hành?

Nên giữ nếu kho phục vụ nghiên cứu, vì dự thảo cho thấy quá trình hình thành chính sách. Nhưng dự thảo phải được gắn nhãn rõ, liên kết với văn bản chính thức và không xuất hiện lẫn trong kết quả tra cứu văn bản đang áp dụng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.